СОЕДИНЕНИЕ: BINH ĐOÀN HAY BIÊN ĐỘI?

Trong thuật ngữ quân sự – hải quân Liên Xô trước đây và Nga hiện nay, «соединение» là một từ đa nghĩa, được hiểu rất khác nhau tùy theo ngữ cảnh và điều kiện lịch sử.

Mặt khác, do tổ chức, biên chế lực lượng hải quân khác nhau, nó gây cho người Việt hay các nhà quân sự thuộc các quốc gia khác (ngoài Nga) gặp khó khăn trong cách hiểu, và dĩ nhiên “dịch máy” không thể nào hiểu và dịch đúng trong tất cả các ngữ cảnh.

Về cơ bản, «соединение» tùy ngữ cảnh, mang hai nghĩa là “binh đoàn” và “biên đội”, có thể giải thích như sau:

– Là từ gọi chung một đơn vị hải quân cấp chiến thuật-chiến dịch và chiến dịch, ví dụ: lữ đoàn (бригада), sư đoàn (дивизия), thậm chí là hải đội (дивизион). Trong tiếng Việt, nếu lúc nào cũng gọi «соединение» loằng ngoằng là “đơn vị cấp chiến thuật-chiến dịch và chiến dịch” trong các tài liệu dịch thì… toang. Vì vậy, tôi hay dùng từ “binh đoàn”. Đơn vị cao hơn (liền kề) của «соединение» là «объединение» (liên binh đoàn, ví dụ: hạm đội, phương diện quân…), thấp hơn là «воинская часть» (đơn vị quân sự, ví dụ: tàu… ).

– Biên đội (tàu), ví dụ: đội hình (отряд), nhóm (группа)… Cùng là «соединение подводных лодок», như phân tích ở trên chính là “binh đoàn tàu ngầm”, nhưng ở ngữ cảnh khác thì là “biên đội tàu ngầm”. Ở đây, «соединение» là một đội hình tàu được sắp xếp có trật tự hành quân trên biển hoặc thực hiện các đòn đánh phù hợp với một chiến thuật nhất định./.

Bài viết được đề xuất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

[instagram-feed]